Hôm nay tình cờ đọc lại một đoạn trong cuốn “The Monk and the Philosopher: A Father and Son Discuss the Meaning of Life

person climegaadsfolder_openUncategorizedaccess_time September 16, 2017

Hôm nay tình cờ đọc lại một đoạn trong cuốn “The Monk and the Philosopher: A Father and Son Discuss the Meaning of Life.” Nói đọc lại là vì cuốn này tôi đã đọc bản tiếng Anh cách đây 6 năm, nay mới đọc bản dịch tiếng Việt của BS Hồ Hữu Hưng.
Đọc đoạn tu sĩ Mật tông Matthieu Ricard kể cho cha mình là triết gia Jean Francois Revel về cảm nghiệm của Matthieu khi ngồi dưới chân của Đạo sư Kangyour Rinpotché thì mới giật mình. Hóa ra chương đầu của cuốn “Dạy Con Trong Hoang Mang”, Lòng Mẹ Trùng Dương, là sự liên kết vô thức, hay ký ức tiềm ẩn [implicit memory], của tôi giữa hai nội dung: triết/đạo học của cuốn sách này và khoa học của GS Allan Schore. Quả thực khi viết chương này tôi không còn nhớ gì nhiều đến cuốn “The Monk and the Philosopher” mà chỉ nghĩ đến sự an tịnh trong những lần người dưới chân thầy.
Theo Matthiew, mặc dù hầu như không nhận được pháp học gì nhiều, chính “chiều sâu, sức mạnh, sự thanh thản, tình yêu toát ra” từ nơi vị thầy của ông đã “mở trí” cho ông ta. Matthiew đã gọi điều này là sự “hòa hợp tâm linh” như trong đoạn kể sau, “Tuy nhiên với sự có mặt của ông, con đã trực nhiên cảm nhận được những điều căn bản trong liên hệ giữa thầy và trò. Đó là sự hòa hợp tâm linh giữa hai người với nhau. Người ta gọi đó là “truyền tâm ấn.” Tâm của người thầy là trí tuệ và của người trò là sự bấn loạn. Vậy là nhờ vào sự hòa hợp tâm linh mà người học trò có thể từ sự bấn loạn đến được trí huệ.”
Còn trong bài “Effects of a secure attachment relationship on right brain development, affect regulation, and infant mental health” của GS Allan Schore trong chuyên san Infant Mental Health Journal năm 2001 thì giữa mẹ và con cũng có những lúc hòa hợp như thế. Những khoảnh khắc tương tác hay nói đúng hơn là giao cảm giữa hai hệ thống đang hòa điệu của mẹ và trẻ sơ sanh đã tạo điều kiện tăng gia sự phức tạp và kết hợp các yếu tố trong tổ chức tâm sinh lý của đứa trẻ. Để bước vào mối giao cảm này, người mẹ phải đạt được sự hòa điệu tâm sinh học với nhịp điệu nội tại [rhythms of his internal state] chứ không phải chỉ vào các hành vi bên ngoài của đứa trẻ. Trong những lần mẹ con giao cảm trong đùa chơi như thế, nghiên cứu cho thấy nhịp tim cả hai gia tăng khi hệ thần kinh giao cảm được kích hoạt và sau đó là nhịp tim một bên giảm thiểu khi hệ thần kinh đối giao cảm được kích hoạt bởi việc đón nhận nụ cười của người còn lại. Và không chỉ là hệ thần kinh tự động được điều hòa mà còn là sự điều hòa hỗ tương giữa các hệ thống nội tiết và thần kinh trung ương của cả mẹ và con khi tương tác với nhau trong trạng thái mà Schore gọi là “khoái lạc cộng sinh” [symbiotic pleasurable state] này.
Chúng ta có thể xem hai trạng thái này, “ngồi dưới chân thầy” và “chơi trong lòng mẹ” đều có nguồn gốc từ sự giao cảm của hai hệ thần kinh. Nếu Matthiew đã được thầy mình đánh thức rồi từ bỏ cuộc đời của một nhà khoa học để trở thành một tu sĩ Phật giáo thì có thể tôi đã không quá đáng khi viết rằng những phút giao cảm đầu đời với mẹ, một người mẹ tỉnh thức và bình an, sẽ chuyển hóa nghiệp lực cho con.
Hình nguồn Secret of the Baby’s Behaviors và trang WebMD